Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Hành trình khám phá Đắc P’ree

Bằng “con ngựa sắt”, từ TP Đà Nẵng, độc giả Hoàng Nguyên và bạn bè quyết định vượt đường rừng gần 200km để khám phá cuộc sống sinh hoạt của đồng bào người Ve ở xã biên giới Đắc P’ree.

< Buổi sáng, Chà Vàl trong sáng lạ thường, tạo cảm hứng để chúng tôi lên với buôn làng Đắc P’ree.

16h chiều, vừa đặt chân đến xã Chà Vàl – trung tâm của các xã vùng cao Nam Giang (tỉnh Quảng Nam) cũng là lúc cơn mưa rừng đổ xuống khiến chúng tôi phải tạm dừng chân qua đêm. Sáng hôm sau, bầu trời Chà Vàl trong sáng lạ thường. Du lich da ngoai.Sau cuộc vui ly cà phê ở phố núi, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình khám phá Đắc P’ree , bỏ lại sau lưng những ánh mắt nhìn thẳng, đầy ngạc nhiên của người dân bản xứ.

< Những cung đường đất ngoằn nghoèo thú vị.

< Dưới những sườn đồi, bản làng người Ve ở thôn 58 hiện rõ nét hoang sơ, kỳ vĩ.

Hơn 7h sáng, nhóm chúng tôi đã lục đục chuẩn bị hành lý để thực hiện một chuyến “phượt” dài lên xã biên giới Đắc P’ree. Sau cơn mưa hôm trước, đường đất lên Đắc P’ree trở nên khá thuận lợi, đất khô mịn ngoằn ngoèo, trượt dài theo từng con dốc thẳng đứng đến thót tim.Du lich da lat. Một cảm giác mạnh khiến nhóm “du lịch bụi” của chúng tôi thích thú.
< Buổi sáng, những chuyến xe chở thịt cá “di động” đến tận buôn làng.
< Cô chủ người Ve bên một góc quán nước hiếm hoi tại Đắc P’ree.

Hơn 10h, Đắc P’ree hiện hữu trước mặt chúng tôi là một khung cảnh hoang sơ, bao trùm cả một không gian núi rừng bạt ngàn. Đứng trên vạt đồi ngắm xuống làng bản của đồng bào người Ve nằm phái dưới thung lũng đẹp, giữa một bên dòng suối Ring hiền hòa. Từng cơn gió Lào khô khốc thổi mạnh, những rừng cây rậm rạp tỏa bóng xanh ngát giữa lưng chừng đèo tạo cảm giác miên man đến kỳ diệu.

< Từ quán nước, nhìn sang bên chiếc cầu treo, hai mẹ con người Ve trở về trong vội vã.
< Sau buổi lên nương, thanh niên Đắc P’ree lại vui chơi thể thao trước sân của làng.
< Đồng bào người Ve thường có một gian bếp treo đầy thịt rừng khô làm lương thực.


< Cùng du khách chung vui rượu Tà-vạt và món Láp truyền thống.
< Trẻ em tung tăng trên con đường quốc phòng vừa mới mở.

Tạt vào một quán nước nhỏ ngay cạnh chiếc cầu treo thôn 58 (xã Đắc P’ree) để giải khát, cô chủ quán cũng là người dân tộc Ve hồ hởi khoe: “Ở đây chỉ có một quán nước này thôi.Du lich phu quoc. Người dân mỗi khi từ rẫy về cũng đều ghé vào uống nước”. Từ quán nước, nhìn qua bên kia sông theo dây cáp của chiếc cầu treo, hai mẹ con người Ve vừa mới từ nương trở về nhà y hệt như đang đi trên không trung, rất vội vã.

< Khi ánh nắng bắt đầu lên, đồng bào Ve lại tranh thủ phơi thóc.
< Những trẻ em người Ve tắm nước bên con dốc đầu làng.
< Và tranh thủ tung chài bắt cá, cải thiện đời sống.

Chiều, ánh nắng vàng vọt phủ khắp núi đồi. Hàng chục thanh niên người Ve cùng nhau ra sân trước làng chơi bóng chuyền.Du lich nha trang. Những nét mặt căng thẳng trong mỗi pha bóng, hay những tiếng cười giòn tang sau mỗi trận đánh thắng đã làm vang khắp núi rừng, cùng tiếng hò reo cổ vũ của các “cổ động viên” trong buôn. Một không khí vui chơi sôi nổi, hào hứng giữa núi rừng hoang sơ tạo nhiều ấn tượng đối với nhiều du khách lần đầu tiên đến thăm.

< Phút dừng chân bên vệ đường của các thiếu nữ sơn cước.
< Khi chưa có điện lưới quốc gia được kéo về, đồng bào người ve ở xã Đắc P’ree đã biết sử dùng máy tua-bin để phục vụ cuộc sống.

Tối đến, theo yêu cầu, chúng tôi được già làng Zơrâm Liếu đãi một chầu rượu Tà-vạt (một loại rượu được lấy từ thân cây) cùng món Láp gà, một món ẩm thực truyền thống rất độc của đòng bào Ve. Những chén rượu nồng được rót đều theo câu ca của già làng, đưa chúng tôi trở về với huyền thoại du dương, trầm bổng giữa bao la đại ngàn hùng vỹ.

Đêm Đắc P’ree, dịu dàng cùng lời hát người Ve…


Du Lich Da Ngoai

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Mát giòn sứa muối mùa lạnh

Ăn sứa hơi lạ miệng và có phần khó ăn cho những người mới thưởng thức lần đầu, nhưng khi đã ăn quen thì khó mà quên được cái vị chát và tiếng nhai giòn sựt của nó.

Dân vùng biển có thể có nhiều bí quyết muối sứa riêng du lich da lat. Nhưng theo kinh nghiệm của một ngư dân gốc Phú Yên, sứa sau khi lưới lên, cạo rửa sạch nhớt, xắt miếng, chủ yếu lấy chân và mép thân sứa.
Sau đó cho vào nước nấu lá sung (hoặc lá đinh lăng hay vỏ vẹt băm nhỏ) đun sôi để nguội với muối ngâm trong khoảng 4 – 5 ngày. Xong vớt ra để ráo rồi bỏ vô túi nilông đóng gói, giữ trong tủ lạnh.

Ăn sứa hơi lạ miệng và có phần khó ăn cho những người mới thưởng thức lần đầu, nhưng khi đã ăn quen thì khó mà quên được cái vị chát và tiếng nhai giòn sựt của nó du lich phu quoc. Sứa muối có thể chế biến nhiều món ăn dân dã và dễ ghiền như vậy, điều cần nhớ là phải rửa nước ấm nhiều lần để bớt độ mặn. Dưa chuột bỏ ruột, xắt nhuyễn. Càrốt, đu đủ nạo nhỏ.

Tất cả bóp muối, rửa sạch, vắt ráo, trộn với ít đường. Đậu rang chín vàng, giã giập. Trứng tráng mỏng cũng xắt chỉ. Thịt ba rọi, tôm, trứng trộn với sứa cùng các loại rau củ trên, nước mắm ngon, chanh, ớt và tỏi cùng rau thơm là có món gỏi sứa khỏi chê. Cũng có người dùng dái mít, trái vả và húng cây để trộn gỏi sứa cho một cung bậc khác.

Nếu có cá ngon như cá bò hoặc cá ngừ để làm món bún sứa thì tuyệt. Cá tươi ướp hành, ớt, nước mắm cho thật thấm, hấp chín. Nồi nước lèo phải nấu bằng xương và đầu cá để ngọt nước du lich thai lan. Sau đó, sắp bún và thịt cá vô tô, bỏ một nhúm sứa lên trên, chan nước lèo. Bún sứa mà không có chén mắm tỏi ớt, chanh và dĩa ghém thì rất… vô duyên.

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

Bản Mông dưới chân núi Hoàng Liên Sơn

Mỗi khi đêm xuống, bản Cát Cát như chìm trong giấc ngủ êm say, giữa rì rào gió rừng và âm thanh róc rách vọng lên từ những dòng suối.

Và khi ngày mới được đánh thức bởi tiếng gà gáy quen thuộc, thì cả Cát Cát lại sôi động hẳn lên với tiếng xe máy cài số, rồ ga leo dốc lên phía trung tâm thị trấn Sa Pa, tiếng trống trường rộn rã thung lũng nhỏ, tiếng trẻ nhỏ í ới gọi nhau đến lớp...

Từ trung tâm thị trấn Sa Pa (Lào Cai), đi khoảng gần ba cây số, từ phố nhỏ Phan-xi-păng qua con dốc sâu hút, ngoằn ngoèo là đến bản Cát Cát thuộc xã San Sả Hồ, nơi có 100% người dân tộc Mông đen sinh sống,xem da ngoai. Cát Cát là bản có từ lâu đời, nằm dưới chân dãy núi Hoàng Liên Sơn, trong thung lũng với ba bề, bốn bên là núi. Từ trên cao nhìn xuống, những mái nhà lợp bằng ván gỗ hay những tấm lợp xi-măng đã ngả mầu thâm xám, nhấp nhô dưới những rặng cây.

Ðường xuống Cát Cát là độc đạo, hết đoạn đường dốc được trải thảm bê-tông thì đến những bậc thang lát đá. Gần 80 hộ dân của bản hầu hết nằm dọc theo con đường này, một số nằm rải rác trên các sườn núi,xem du lich nha trang. Ði khoảng mấy trăm mét bậc thang, qua cây cầu Si bắc ngang con suối Tiên Sa là trung tâm Cát Cát, nơi hội tụ của ba dòng suối ngày đêm rì rầm chảy: suối Tiên Sa, suối Vàng, suối Bạc.

Khi tôi đến, Nhà văn hóa của bản đang rộn rã tiếng khèn, tiếng hát và điệu múa xòe ô của những chàng trai, cô gái người Mông, giới thiệu với khách du lịch thập phương về nét văn hóa độc đáo của bản mình.

Một phụ nữ đến từ Hà Lan - đất nước hoa tuy-líp, trên tay cầm chiếc váy thổ cẩm mới mua, được may cách điệu trên tấm vải do chính tay người phụ nữ Cát Cát dệt nên, vừa xem văn nghệ, vừa luôn miệng tấm tắc: "Thật hay, thật độc đáo".

Chị Má Thiên Tân, có bố là người Mông, mẹ là người Kinh, chủ một sạp hàng cạnh Nhà văn hóa bản cho biết, khách du lịch nước ngoài đến đây đều thích thú vẻ hoang sơ của cảnh vật, con người Cát Cát, và họ thường mua một vài sản phẩm truyền thống của người Mông ở đây làm kỷ niệm,xem du lich thai lan. Với sạp hàng lưu niệm nhỏ, bán cùng một vài sản phẩm nông sản đặc trưng như cơm lam, thịt lợn bản nướng,... chị Má Thiên Tân thu nhập đều đều khoảng trên dưới 200 nghìn đồng mỗi ngày; lại thêm nghề chăn nuôi, trồng cấy, vợ chồng chị tạm đủ lo cho ba con đang học ở thị trấn Sa Pa.

Mùa này, ở Cát Cát, lúa trên ruộng bậc thang đã gặt xong, thảo quả trên rừng cũng qua mùa thu hoạch, hầu hết phụ nữ đều ở nhà cần mẫn bên khung cửi, xe sợi, tước lanh, thêu dệt những sản phẩm truyền thống của người dân tộc Mông, hoặc bày bán những sản phẩm do chính họ làm ra như khăn, mũ, áo váy, đồ trang sức bằng bạc, đồng chạm khắc tinh tế. Dù cuộc sống đã có nhiều thay đổi, nhiều nhà đã có xe máy thay ngựa, bản Cát Cát đã trở thành điểm du lịch sinh thái thu hút hàng nghìn lượt khách du lịch mỗi năm, nhưng trang phục truyền thống của người Mông vẫn được dân bản gìn giữ.

Với phụ nữ Mông là khăn, váy áo, thắt lưng, xà cạp, quần, và đồ trang sức. Khăn là tấm vải chàm hình chữ nhật quấn quanh đầu, áo mặc trong mầu chàm, xẻ ngực, áo khoác ngoài có thân dài, cổ áo thêu hoa văn theo mô-típ họa tiết cổ. Hai ống tay áo thường thêu những đường vằn ngang đủ các mầu. Thắt lưng được làm bằng vải có tua ở hai đầu, giữa thêu các họa tiết. Quần lửng qua đầu gối, bắp chân quấn xà cạp mầu chàm. Ðàn ông người Mông phần lớn vẫn đội chiếc mũ làm bằng vải lanh, gồm tám miếng vải khâu ghép, mặc áo trong xẻ nách ngắn, áo khoác ngoài dài. Cổ áo thêu hoa văn móc câu kiểu hoa văn đơn; quần chàm mầu đen, ống rộng.

Tuy nhiên, do sự phát triển của đời sống, rồi tiếp xúc, trao đổi, học hỏi,... một số phụ nữ người Mông đã có kiểu kết hợp trang phục nửa truyền thống, nửa hiện đại với áo phông, quần ống rộng, hoặc váy xòe, đầu đội khăn Mông...

Trẻ em Cát Cát sinh ra đã thở hơi thở của núi rừng. Những đứa bé một, hai tuổi, vừa biết đi đã ton tón chạy nhảy trên những bậc cầu thang mấp mô mà không hề bị ngã. Lớn thêm chút nữa, những ngày nắng nóng, chúng cõng nhau ra suối tắm ì ụp, rồi nằm phơi mình trên những tảng đá dưới suối mà bố mẹ chúng chẳng phải lo lắng. Trước đây, hầu hết bà con người Mông ở Cát Cát không biết chữ, không nói được tiếng Kinh, nhưng nay con trẻ đến tuổi đi học đều được đến trường.

Cô giáo Hoàng Thị Hà, quê ở Hà Nam, sinh ra và lớn lên tại Sa Pa - người đã gắn bó hơn hai chục năm ở đây cho biết: Trường tiểu học San Sả Hồ có ba điểm trường cách nhau khá xa ở Cát Cát, Sín Chải, đồi Pù,xem du lich campuchia. Toàn trường có 17 cô giáo phụ trách 17 lớp, mỗi lớp có khoảng 25 đến 28 học sinh. Là giáo viên vùng cao, các chị phải vừa là cô, vừa là mẹ, vừa dạy lại vừa dỗ học sinh để các em vui vẻ đến lớp. Ở Cát Cát, gia đình người Mông hay trồng thảo quả trên rừng, khi bố mẹ đi rừng thì các em phải ở nhà trông em, nên thường xuyên nghỉ học.

Bởi vậy, ngoài việc vận động, làm công tác tư tưởng với các gia đình để họ cho con em đến trường, hằng ngày, các cô giáo phải dậy từ 5 giờ sáng, đến tận nhà các em hay nghỉ học để gọi đến lớp. Ðiểm trường ở đồi Pù, cách bản Cát Cát khoảng 4 đến 5 cây số đường rừng, đi bằng xe máy đến Sín Chải, rồi đi bộ đến trường.

Ngày học hai buổi, các em nhà xa thường mang cặp lồng cơm để ăn trưa tại trường. Cặp lồng chỉ có cơm không, đến trường cô giáo nấu thức ăn, các em ăn cùng.

Ðể động viên học sinh, các cô giáo góp tiền mua bóng cho học sinh nam đá, mua dây cho các em gái nhảy dây, để các em cảm thấy mỗi ngày đến lớp là một ngày vui. Các cô còn tổ chức quyên góp quần áo ấm, mua bánh kẹo thưởng cho học sinh chăm ngoan vào cuối mỗi tuần. Cô giáo trải lòng: "Vất vả là thế nhưng nhìn trẻ vui là cũng vui, nhất là thấy nhiều em học giỏi, viết chữ rất đẹp, chúng tôi như có thêm động lực, yêu nghề, gắn bó với trường, với lớp".

Góp thêm vào câu chuyện học hành, anh Vàng A San, Chủ tịch Hội Nông dân xã San Sả Hồ, có vẻ... bẽn lẽn khi thổ lộ sự vất vả phải nuôi bốn đứa con đang tuổi lớn, khi anh mới 29 tuổi, còn vợ mới chỉ 25 tuổi:  "Trót đẻ nhiều con, sai rồi. Bây giờ nuôi chúng vất vả.

Làm  cán bộ xã được hơn một năm nay, được học nhiều, hiểu ra nhiều để hướng dẫn dân bản cùng thực hiện các chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ðời sống dân bản Cát Cát hiện đã khá lên nhờ thảo quả và nghề truyền thống, thu nhập trung bình của gia đình mình khoảng 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng/năm, nên cố cho các cháu học hành đầy đủ. Mình phải làm gương, để vận động bà con làm theo". Những năm qua, chính quyền và nhà trường đã có nhiều biện pháp phối hợp trong công tác vận động đưa trẻ trong độ tuổi đến trường, tuy nhiên vẫn còn nhiều gia đình chưa thông, nên tỷ lệ đi học mới đạt hơn 70%.

Anh San kể, có trường hợp đến nhà vận động, gia đình không hợp tác hoặc không cho vào nhà bằng cách cắm cành lá trước cổng (một phong tục người Mông, là dấu hiệu báo chủ nhà không tiếp khách). "Nhưng chúng tôi rất cương quyết, đến ba lần mà gia đình vẫn không cho trẻ đi học sẽ bị phạt tiền hoặc tạm giữ đồ dùng trong nhà, đến khi các cháu đi học sẽ trả lại".

Về chuyện cúng ma của người Mông anh Vàng A San cho biết, người Mông coi cúng ma là một trong những tục không thể thiếu trong đời sống hằng ngày, cúng ma để trừ tai họa, người ốm cũng cúng, vật ốm cũng cúng... Theo quan niệm cũ, gặp điềm gở như vậy là do đã bị ma bắt mất vía. Ma đã bắt mất vía thì cả người và vật sinh ra đau ốm, dần dà rồi chết. Vì thế, gia chủ bắt buộc phải làm lễ cúng ma. Trước khi làm lễ cúng ma, bà con họ hàng, làng bản góp gạo, rượu, tiền xu... để làm lễ.

Tùy theo khả năng mỗi người sẽ cho gạo, rượu, gà, tiền và chúc phúc cho gia chủ  làm lễ thành công để tai qua nạn khỏi. Cúng ba ngày không khỏi mới đi mời cán bộ y tế, hoặc đưa đến cơ sở y tế xã... Câu chuyện của chúng tôi đang dở thì Má A Sàm, em vợ của Vàng A San đến chơi, trên tay đeo sợi dây đỏ, chứng tỏ Sàm đang dự lễ cúng ma. Sàm là một thanh niên Mông nhanh nhẹn, tân tiến, không mặc quần áo người Mông, thạo tiếng Kinh, biết nói tiếng Anh, tiếng Pháp, vì Sàm được đi học để làm hướng dẫn viên du lịch cho các "tua" khám phá Phan-xi-păng.

Sàm bảo: "Em chỉ ngồi một lúc thôi vì đang dở làm lễ cúng ma cho đàn lợn con vừa đẻ đã  bị chết".

- Thế cúng ma cho lợn cần những gì? - Tôi tranh thủ tìm hiểu.
- Phải mổ lợn, gà, dê, chim, rắn, ếch... nghĩa là đủ 12 con vật để tế. Cúng từ sáng tới giờ vẫn chưa xong (lúc ấy khoảng 5 giờ chiều).
- Cúng mấy con lợn con mà tốn kém thế thì...?
- Không cúng, "nó" về bắt luôn cả lợn mẹ đi ấy chứ.

Người Mông ở Cát Cát vẫn còn niềm tin về "thế giới siêu nhiên" như vậy, nên rất thành tâm. Tục cúng ma  đã tồn tại nhiều đời nay, ăn sâu bám rễ trong tâm thức của dân bản, có lẽ sẽ còn tồn tại một thời gian nữa, khi tính thiết thực của công tác y tế, của hoạt động bảo vệ môi trường và công tác vệ sinh phòng dịch... mang lại hiệu quả cao sẽ thuyết phục được bà con hướng theo các chuẩn mực của cuộc sống mới.

5 giờ chiều. Tiếng trống tan trường đã vang lên. Ðàn em nhỏ ríu rít kéo nhau về bản, trên tay mỗi bé là chiếc cặp lồng, còn sách vở để lại ở lớp. Quần áo, chân tay, mặt mũi đứa nào cũng lấm lem nhưng nụ cười thì luôn tươi rói, thân thiện khi gặp khách du lịch đi ngang qua. Vừa chia kẹo tôi vừa tranh thủ "đố" các em bài toán nhỏ, và rất nhanh nhận được kết quả chính xác. Ðó là tín hiệu vui cho một tương lai không xa của bản Cát Cát.
TAG:du lich da ngoai

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Những ngọn thác đa dạng của Ninh Thuận

Nếu thác Tiên và Chapper gây ấn tượng bởi sự hùng vĩ với độ cao trên 60m, thì thác Đa Thao hay các thác được tạo thành từ suối Lồ Ồ chỉ tròn trĩnh ở con số… 5m.

Thác Tiên

Thác Tiên hay còn gọi là Thác gió (vì dưới chân thác lúc nào cũng có gió thổi rất mạnh, đưa làn hơi nước mỏng nhẹ bay lơ lửng khắp không gian xung quanh), hay thác Đôi vì có hai dòng chảy nằm giữa rừng già nguyên sinh Đèo Gió, thuộc địa phận xã Nấm Dẩn, huyện Xín Mần, Hà Giang.

Trước đây, muốn đến thác Tiên, người dân phải bám cây rừng rậm rạp tìm đường đi,xem du lich da ngoai. Ngày nay đã có những bậc thang xi măng xây rộng nên việc đi lại dễ dàng hơn. Là ngọn thác có chiều cao khoảng 70m, thác mang vẻ đẹp của hai dòng nước trắng xoá xuyên giữa màu xanh ngút ngàn của rừng già.

Trái với hình ảnh hung tợn của con thác, con suối nhỏ dưới chân thác trong veo, mát lạnh và khá cạn nên du khách có thể ngâm chân xuống nước, chơi đùa hay chụp hình.

Sau khi đùa nghịch thoả thích, bạn có thể thả người trên cây cầu bắc ngang suối, ngửa cổ ngắm thác như hai sợi chỉ song song nổi bật giữa màu xanh của núi rừng, của bầu trời, tận hưởng những luồng gió mang đầy hơi nước mát rượi.

Thác Sakai


Thác Sakai cao 30m thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Bắt nguồn từ đèo Ngoạn Mục, hạ lưu của nó có dòng chảy cuối cùng tiếp giáp với công trình nhà máy thủy điện Đa Nhim.

Thác mang vẻ đẹp hoang dã với những tảng đá lớn phản sắc cầu vồng nhấp nhô giữa rừng cùng dòng nước đổ từ trên cao xuống tung bọt trắng xoá. Ngoài ra, khi đến đây, bạn còn có dịp chiêm ngưỡng những đường ống khổng lồ của thuỷ điện Đa Nhim, chiêm ngưỡng mặt hồ bao la hay những góc cua cùi chỏ ngoạn mục của đèo.

Đến với thác SaKai du khách sẽ được hòa mình vào phong cảnh thiên nhiên hoang dã với những khối đá đồ sộ phản chiếu ánh nắng mặt trời tạo nên những sắc cầu vồng loang loáng giữa rừng xanh bạt ngàn cùng với những thác nước từ độ cao hàng trăm mét lao xuống ầm ầm, bọt tung trắng xóa như những đoá hoa khổng lồ,xem du lich nha trang. Cùng với việc thưởng thức cảnh đẹp núi rừng hùng vĩ dọc theo hai bên đèo Ngoạn Mục, du khách nghe vọng lại tiếng thác đổ rì rào như dàn hợp xướng giữa núi rừng sâu thẳm càng làm tăng cảm giác hoang dã và huyền bí.


Thác Chaper

Thác Chaper hay còn gọi là Chapor, thác Chapanh thuộc thôn Ma Lâm, xã Phước Tân, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, cách quốc lộ 27B khoảng 10km. Tên gọi của thác gắn với người con gái xinh đẹp người Raglai bị thần nước cuốn trôi.

Thác Chaper cao khoảng 60m nhưng lại không ầm ào, hùng vĩ mà nhẹ nhàng thanh bình như mái tóc dài sơn nữ vắt ngang triền đá, vắt ngang rừng bằng băng tím ngát hay rừng trúc bao la. Chính vẻ đẹp đó, thác được ví như vẻ đẹp của một nàng tiên giữa núi rừng.

Đến đó, ngoài chiêm ngưỡng nét đẹp của dòng thác, bạn còn có thể tạt vào làng của người Raglai, tìm hiểu nếp sinh hoạt, thưởng thức đặc sản hay nghe những làn điệu sử thi âm vang cùng tiếng thì thào của núi rừng.

Thác Đa Thao

Thác Đa Thao là một trong những thác nước thấp được tạo nên từ dòng chảy của suối Kiền Kiền thuộc huyện Ninh Hải. Tuy khá thấp (cao 5m) nhưng thác Đa Thao vẫn khiến du khách xuýt xoa khâm phục với lượng nước lớn, dòng chảy mạnh. Điểm thích nhất khi đến với thác Đa Thao là nếu chịu khó đi dọc con suối Kiền Kiền, bạn sẽ khám phá ra những thác nước thấp với nhiều hình dáng khác nhau và đều đủ mạnh để tung bọt trắng xoá. Ngoài ra, đến đây, bạn có thể trầm mình trong dòng nước mát lạnh, hạ trại hay bày những trò chơi lớn dành cho tập thể.

Những ngọn thác ở suối Lồ Ồ

Suối Lồ Ồ thuộc xã Vĩnh Hải (Ninh Hải, Ninh Thuận). Nằm phía Đông Bắc thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (Ninh Thuận), thuộc hệ sinh thái Vườn quốc gia Núi Chúa. Theo truyền thuyết, suối là dòng nước mắt chờ chồng của nàng tiên thường xuống tắm ở vịnh Vĩnh Hy.

Khác với tạo hình uốn cong mềm mại của những con suối thường thấy, suối Lồ Ồ được tạo bởi dòng nước chạy qua các tảng đá hoa cương cao 5m mà thành. Ngồi trên những tảng đá, thả chân đong đưa dưới làn nước mát, bạn sẽ cảm nhận được cái mát lạnh, sự mơn man của làn nước. Suối có nhiều đá lớn nên nếu thích, bạn có thể hoàn toàn thả mình trên những tảng đá, nghe tiếng nước chảy, cảm nhận cái yên tĩnh vẻ xanh mát của khu rừng như tạo thành bản tình ca nhẹ đưa bạn vào giấc ngủ.

Du lịch, GO! - Theo BĐVN, internet

Hệ thống sông, suối thác ở Ninh Thuận

+ Thác Chapơr cách quốc lộ 27B thuộc thôn Ma Lâm, xã Phước Tân, huyện Bác Ái khoảng 15 km. Đây là một quần thể mới được phát hiện, toạ lạc giữa khu rừng nguyên sinh. Quần thể gồm 3 ngọn thác: thác Chapơr 1 cao 15 mét, chiều ngang từ 10m – 15m; Chapơr 2 cao từ 20m – 30m, ngang từ 15m – 25m và điểm nhấn chính là thác Chapơr 3 có độ cao sừng sững từ 50m – 60m (vào mùa mưa), ngang từ 30m – 40m, với một khối lượng nước khổng lồ từ trên cao tuôn xuống tung bọt trắng xoá, từ xa du khách đã nghe tiếng thác đổ ầm ầm xen lẫn tiếng suối chảy róc rách qua các khe đá tạo nên âm thanh thiên nhiên hùng vĩ,xem du lich teambuilding. Du khách cảm thấy lòng thanh thản khi cảnh vật nơi đây có vô vàn hoa bằng lăng tím nở rộ cùng những cụm lan rừng muôn màu, muôn sắc, nên thơ hữu tình như muốn giữ chân người lữ khách.


+Thác Tiên : Từ trung tâm TP Phan Rang - Tháp Chàm đi 32 km về hướng Tây Bắc, dọc theo quốc lộ 27 đi Đà Lạt. Đến Thác Tiên du khách được hít thở không khí trong lành, tham quan, chụp hình, cắm trại, leo  vách đá, vượt suối.

+Thác Sakai : Bắt nguồn từ đèo Ngoạn Mục, hạ lưu của nó có dòng chảy cuối cùng  tiếp giáp với công trình Nhà máy thủy điện Đa Nhim. Thác SaKai phong cảnh thiên nhiên hoang dã với những tảng đá lớn giữa rừng cây xanh cùng những dòng nước từ  trên cao hàng trăm mét đổ xuống, bọt tung trắng xóa tất đẹp mắt.

+Suối Tiên : Từ TP Phan Rang - Tháp Chàm đi trên quốc lộ 1A khoảng 35 km về hướng Bắc là tới suối Tiên xã Công Hải, huyện Ninh Hải. Suối Tiên được tạo nên bởi một quần thể thiên nhiên hài hòa, nơi đây núi rừng trùng điệp, với muôn vàn lan rừng sặc sỡ là điểm du ngoạn hấp dẫn.

+Suối Lồ ồ: Nằm ở khu vực vịnh Vĩnh Hy, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Suối Lồ ồ có cảnh quan đẹp với thác nước đổ trên cao từ 5m xuống, những phiến đá to bằng phẳng, là nơi dừng chân nghỉ ngơi của du khách. Nơi đây rất phù hợp cho loại hình du lịch dã ngoại, cắm trại, sinh hoạt ngoài trời…

+Suối Kiền Kiền:  suối Kiền Kiền cũng có những thác nước tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ. Nơi đây có dòng thác Đa Thao ngày đêm đổ nước cuồn cuộn từ trên cao tung bọt trắng xóa cả một vùng. Du khách đến đây có thể tắm suối, đùa nghịch với những bọt nước, thác Đa Thao, hoặc tổ chức những buổi picnic, du ngoạn sinh hoạt tập thể.

+Suối Thương: cách trung tâm TP Phan Rang-Tháp Chàm đi trên quốc lộ 27A khoảng 30 km,xem du lich campuchia. Suối Thương có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, những dòng suối cuồn cuộn chảy qua các phiến đá tạo nên hình ảnh những đợt sóng trào dâng được du khách và nhân dân địa phương tổ chức tham quan du ngoạn , cắm trại vào dịp cuối tuần và các ngày lễ, tết.

+Suối nước nóng Tân Sơn(Krongpha) : cách TP Phan Rang - Tháp Chàm 37 km về phía Tây-Bắc, nằm trên quốc lộ 27A là tới suối nước nóng Tân Sơn, huyện Ninh Sơn được dẫn từ Dục Mỹ cách đó khoảng 4 km trên núi Bồ về các bồn tắm ở khu du lịch Krongpha, phục vụ khách du lịch ngâm, tắm trị liệu tạo cảm giác sảng khoái, phục hồi sức khỏe.